Thị trường mỹ thuật Việt Nam: Gậy ông “đập lưng” cháu ông

Hai ba thập niên trước, quốc tế quan tâm đến mỹ thuật Việt Nam vì 3 lý do chính: tò mò; bổ khuyết sưu tập; và: giá rẻ. Nhưng nay quốc tế hết ưu tiên mua tranh Việt mà chuyển sang mua tác phẩm từ những nước có nhiều tương lai hơn như Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Philippines…

Vắng bóng tại các phiên đấu giá

Đầu thập niên 1990, tại nhiều phiên đấu giá quốc tế của Sotheby’s, Christie’s…, tới những phiên đấu giá tranh khu vực Đông Nam Á, tranh Việt được xem như thứ hương xa (exotic) khó bỏ qua, dư vị này kéo dài cho đến những năm 2006-2009. Nhưng mấy năm gần đây thì biến mất. Sotheby’s, Christie’s gần như “khóa trái cửa” với tranh Việt Nam, lý do chính là vì họ không còn nhà tuyển chọn, hoặc còn mà họ không dám tin cậy. Bởi có vài tên tuổi như vậy đã bị các phòng tranh, nhà môi giới và cả họa sĩ Việt Nam mua chuộc, khiến trong phòng đấu giá xuất hiện không ít tác phẩm kém chất lượng, hoặc giả, hoặc nhái.

Tác phẩm Les brodeuses (Thợ thêu, lụa, 68 x 68 cm, 1932), thuộc diện hiếm hoi và có giá trị cao của danh họa Tô Ngọc Vân, nay thuộc sưu tập riêng, chỉ được nhìn thấy qua một triển lãm vừa diễn ra tại Paris.

Một nhà đấu giá đang lên, Larasati (đặt văn phòng chính ở Singapore) từng rất mặn mà với tranh Việt, có vài phiên đấu đã chọn họa sĩ Việt làm tiêu điểm. Thế nhưng 2-3 năm trở lại đây, nhà này cũng bắt đầu lơ, vì luôn “có những phàn nàn phía sau về chất lượng tác phẩm làm chúng tôi phải e dè và cẩn trọng hơn” (đại diện Larasati). Hơn nữa, với cơ chế công khai “mời ký gửi tác phẩm và tự chịu về bản quyền, tính độc bản” mà Larasati đã không nhận được những hưởng ứng nhiệt tình từ các phòng tranh, các nhà môi giới và cả các họa sĩ Việt Nam. Sở dĩ có “quy định” này vì trước đây, do quá tin vào chuyên gia thẩm định và tiến cử, nên trong nhiều vựng tập đấu giá của Sotheby’s, Christie’s… đã bị tình trạng “tranh độn” làm cho khốn đốn. Mục đích của những người “độn” tranh, không phải là để bán ngay trong phiên đấu đó, mà là qua thời gian, vựng tập đó thành cơ sở khả tín để những tác phẩm giả, nhái thành đáng tin, nâng được giá bán, lừa được các nhà sưu tập tay mơ, mới vào nghề.

Nhìn quanh khu vực Đông Nam Á, tranh Việt từng có vị thế đáng trân trọng, thế mà 3-4 năm gần đây, thứ bậc của Việt Nam đã dần nhường cho Thái Lan, Myanmar, Phillippines. Các nhà đấu giá đã mở đại lý chính thức của mình ở các nước này, trong khi ý định ấy manh nha ở Việt Nam từ trước năm 2000 nhưng tới nay vẫn là con số 0.

Phá giá nên khó nâng giá

Trong sơ đồ mỹ thuật Đông Dương và Đông Nam Á, mỹ thuật Việt Nam chẳng thiếu tiếng nói đặc sắc, thế nhưng luôn thiếu địa vị cao. Lý do của điều này đã được lý giải rất nhiều, chung quy là thiếu thị trường nội địa lành mạnh, thiếu nền nghiên cứu và phê bình đúng tầm vóc, thiếu chiến lược tiếp thị cấp độ quốc gia. Tại đây, chỉ xin đề cập thêm một khía cạnh khác, đó là tự phá giá, không chỉ ở khía cạnh tiền bạc, mà còn ở khả năng giữ danh tiếng và niềm tin của khách hàng.

Nhìn ra khu vực Đông Nam Á, những bộ tứ như “Trí Lân Vân Cẩn”, “Phổ Thứ Lựu Đàm”, “Nghiêm Liên Sáng Phái”… thuộc diện khó gặp trong lịch sử mỹ thuật hiện đại của một quốc gia; đó là chưa nói đến nhiều tên tuổi thời kỳ đầu (mỹ thuật Việt Nam hiện đại) như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tiến Chung, Lê Văn Đệ, Lương Xuân Nhị, Tạ Tỵ, Tôn Thất Đào…

Tác phẩm Mélodie (Du dương, lụa, 34,5 x 19 cm, 1956) của danh họa Mai Trung Thứ, cũng chỉ được nhìn thấy qua triển lãm vừa diễn ra tại Paris.

Thế nhưng, nếu nhìn về giá tranh từng bậc thầy thì ngoài Nguyễn Gia Trí (gần như hết giao dịch vì đã hết tác phẩm), chỉ còn mỗi Lê Phổ là trụ được trên thị trường quốc tế, các tên tuổi khác ít khi “có mặt”. Với bộ tứ “Phổ Thứ Lựu Đàm”, tác phẩm của Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Vũ Cao Đàm dù rất giá trị, phần nhiều tránh được nạn tranh giả, tranh nhái, nhưng đã “yên phận” trong sưu tập, thị trường gần như hết cơ hội để giao dịch.

Giữa thập niên 1980, khi hai bộ tứ “Trí Lân Vân Cẩn”, “Nghiêm Liên Sáng Phái” được quốc tế tìm kiếm, thông qua con đường ngoại giao, rồi các phiên đấu giá… thì gần như lập tức, tình trạng tranh giả, nhất là tranh chép, tranh nhái tác phẩm của các tác giả này xuất hiện tràn lan và ngày càng tinh vi. Sau khi các nhà nghiên cứu mỹ thuật vào cuộc, dần làm rõ quá trình sáng tác và số lượng tác phẩm khá khiêm tốn của từng danh họa, lúc ấy thị trường bắt đầu khựng lại khi thấy rõ sự chênh lệch về số lượng giữa tác phẩm thật và tác phẩm đang được mua bán. Đơn cử, qua con đường quà tặng ngoại giao, các bức tranh chép có ký tên Nguyễn Phan Chánh đến nay là một bi kịch, khi mà trên thị trường có vô số bức giống nhau, ngay cả vài bức gốc cũng đã bị đánh tráo. Qua con đường môi giới, tranh của Bùi Xuân Phái còn thảm nạn hơn khi số tranh giả gấp nhiều lần tranh thật!

3 lý do khiến tranh Việt mất giá:

1.Tranh giả. 

2. Tranh chiều thị hiếu.

3. Không có thị trường nội địa.

Hòa vào không khí “phấn khởi” và “khát” tranh Việt từ đầu thập niên 1990, thế hệ họa sĩ 4X, 5X và 6X (đặc biệt tại Hà Nội) đã mau chóng chen chân được vào thị trường, nhiều người giàu có nhờ bán tranh. Một tín hiệu đáng mừng. Thế nhưng, như nhiều nhà nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra, tác phẩm của những họa sĩ này chỉ quanh quẩn với những gì “bán được”, ít người dám vươn đến khu vực “sẽ bán được”, chứ chưa nói quyết tâm “vẽ cho mình”. Các phòng tranh thì nhanh chân đặt hàng các họa sĩ trẻ, các sinh viên vẽ “giông giống”, thậm chí làm phiên bản và chép ồ ạt tác phẩm của những họa sĩ bán được !? Đó là chưa nói tình trạng làm giá và phá giá vô tội vạ đã khiến cho tranh Việt đánh mất cơ sở định giá. Việc mỹ thuật Việt có hàng chục danh họa thời kỳ đầu được quốc tế “biết mặt, đặt tên”, vậy mà chưa một tác phẩm nào đạt giá 1 triệu USD thì quả là đáng tiếc. Đắt giá nhất, danh họa Lê Phổ cũng chỉ mới leo lên đến gần nửa triệu USD, trong khi các danh họa cùng thế hệ của ông như Raden Saleh, Affandi, Hendra Gunawan, S.Sudjojono… thì đã hàng triệu, có bức lên đến 4-5 triệu USD. Ngay cả một họa sĩ trẻ như I.Nyoman Masriadi (sinh 1973, Indonesia) cũng đã có 5-7 tác phẩm đạt giá triệu USD.

Thiếu thị trường nội địa

Trong khoảng 10 năm gần đây, sở dĩ tranh Indonesia, Trung Quốc, Hàn Quốc… làm mưa làm gió được trên thị trường quốc tế, vì thị trường nội địa của họ đã mạnh mẽ. Singapore, Thái Lan và gần đây Malaysia… cũng đã định hình về thị trường nội địa, như Art Expo Malaysia 2012 vừa rồi, dù có nhiều nước tham dự, gần như “người Mã Lai mua tranh Mã Lai”. Điều này cũng từng được minh chứng qua thị trường Mỹ, Nhật Bản, Nga… hồi đầu và giữa thế kỷ 20.

Nếu tính từ bức Bình văn của họa sĩ Lê Huy Miến (sáng tác khoảng từ 1898 tới 1905) nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam đã hơn 100 năm tuổi, hiện có hàng ngàn họa sĩ sáng tác, vậy mà chẳng lập nổi một thị trường nội địa. Thị trường này không chỉ để mua bán tác phẩm, mà còn tiến tới việc thẩm định, định giá, làm giá, giữ giá… tác phẩm. Hơn nữa, mỹ thuật là hàng hóa siêu xa xỉ, thế mà người Việt không mua tranh Việt, thì làm sao kích hoạt nhu cầu và niềm tin từ khách quốc tế?

Khi không có thị trường nội địa, việc ngấm ngầm hay công khai chảy máu nghệ thuật khó tránh khỏi. Phần lớn tác phẩm tiêu biểu của những bộ tứ kể trên, hay các tên tuổi có thị trường khác qua các thế hệ, mà gần đây là 7X, 8X…, đang không nằm ở Việt Nam. Chính vì vậy, mà sự ế ẩm và cái chết của thị trường tranh Việt hiện nay là điều đã được báo trước, đúng như câu thành ngữ cải biên: gậy ông “đập lưng” cháu ông.

Văn Bảy

Tag:

Gửi thảo luận